“Cơn ác mộng” kháng kháng sinh đến từ chính sự thiếu hiểu biết và thiếu trách nhiệm !

Nhiều nơi trên thế giới, trong đó có cả nước ta đã phát hiện ra một siêu vi khuẩn có khả năng kháng toàn bộ các loại kháng sinh. Và cơn ác mộng này mới chỉ là sự bắt đầu nhỏ nhoi nếu như mỗi người chúng ta không cùng chung tay ngăn cản và làm chậm quá trình này.

Để giải thích cho vấn đề này thì bất kỳ một y sĩ, dược sĩ, bác sĩ nào cũng có thể làm được. Nhưng làm sao để tất cả mọi người đều hiểu thì đó là cả một câu chuyện dài cần sự giải thích và cái tâm của những người có hiểu biết, có kiến thức và có trách nhiệm. Bài viết này mong đóng góp một phần kiến thức ít ỏi và nhỏ nhoi để cùng chung tay chặn đứng, hoặc chí ít là làm chậm quá trình ác mộng này.

Trước tiên, chung ta cần biết kháng sinh là gì. Kháng sinh l các chất lấy từ các loài nấm, vi nấm, vi sinh vật,…bán tổng hợp hoặc tổng hợp hoàn toàn, có khả năng tiêu diệt vi khuẩn hay kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu. Nó có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử thường là một vị trí quan trọng của vi khuẩn hay một phản ứng trong quá trình phát triển của vi khuẩn. Nói một cách dễ hiểu thì kháng sinh hoặc là kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn, là làm cho vi khuẩn bị “nhiễm bệnh” và sau đó bị tiêu diệt mà không làm ảnh hưởng đến vật chủ là con người.

Trong giải thích trên thì chúng ta có nhắc đến vi khuẩn. Vậy vi khuẩn là gì. Vi khuẩn là những vật thể sống có kích thước rất nhỏ (kích thước hiển vi), có tổ chức tế bào và quá trình chuyển hóa năng lượng hoàn chỉnh để sinh tồn. Vi khuẩn là một sinh vật đơn bào. Chính vì vi khuẩn là một vật thể sống nên kháng sinh mới có thể làm “chết” nó. Kháng sinh tác động lên quá trình trao đổi chất hoặc quá trình nhân lên để tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn. Một loại kháng sinh có thể tiêu diệt được nhiều loại vi khuẩn hoặc có loại chỉ đặc trị được một loài nhất định.

Còn virus khác với vi khuẩn. Virus có kích thước nhỏ hơn vi khuẩn (chỉ bằng khoảng 1/100 kích thước vi khuẩn), có cấu tạo cơ bản là một lớp vỏ lipid và protein bên ngoài bao bọc lấy vật chất di truyền bên trong (ADN hoặc ARN). Virus, tuy rằng được một số nhà khoa học xếp vào dạng vật thể sống, nhưng mặt khác chúng lại thiếu những đặc tính thiết yếu (như cấu trúc tế bào) – những điều được công nhận rộng rãi là cần thiết để được coi như sinh vật sống. Do đó, chúng ta có thể coi chúng là “loài nằm giữa sự sống và cái chết”. Do vốn chúng đã “không sống” nên kháng sinh “không thể giết chết” chúng (nếu thực sự có ma thì chúng ta không thể giết chết ma vì vốn dĩ ma không sống). Virus không từ một ai, thậm chí cả vi khuẩn cũng là nạn nhân của chúng. Do chúng mang vật chất di truyền nên chúng tác động đến vật bị nhiễm ở cấp độ tế bào. Virus chỉ có thể sinh sôi và phát triển khi chúng ở trong một tế bào của vật bị lây nhiễm. Hãy tưởng tượng, chúng ta có thể cảm nhận thấy dấu hiệu của sự sống từ một tế bào của con người hoặc vi khuẩn. Các quá trình sinh hóa gây ra những tiếng ồn ào, như động cơ của các tàu vũ trụ trong phim khoa học viễn tưởng. Các phản ứng xảy ra phía trong của tế bào và vi khuẩn chứng minh cho việc chúng đang tiêu thụ năng lượng.Nhưng đối với virus, bạn sẽ nhìn thấy chúng như những con tàu chết, im lìm, đóng băng và không hoạt động. Virus không di chuyển chủ động, chúng không cho thấy bất kỳ dấu hiệu nào của sự sống. Chúng không ăn uống, không hít thở và không có phản ứng hóa học nào diễn ra cả.

Vậy virus gây bệnh cho chúng ta bằng cách nào?

Virus trên cơ thể con người giống như người anh em của nó trên máy tính, chỉ đơn giản là tập hợp lệnh chỉ dẫn lưu trữ trên ADN hoặc ARN, thay vì các đoạn code. Các ADN và ARN được bao bọc bởi một lớp vỏ protein bảo vệ.

Khi virus tiếp cận và gắn vào tế bào con người, chúng truyền vào bên trong tế bào một sợi ngắn ADN hoặc ARN. Quá trình này giống như bằng cách nào đó, các ARN đã đi qua được cửa an ninh của sân bay.

Về lý thuyết khi một người lọt qua được cửa an ninh, anh ta được tính là một người tốt. Tế bào con người cũng vậy, chúng coi các ADN ngoại lại này là hiền lành và cơ chế miễn dịch không hoạt động. Cơ thể con người, cùng với hệ miễn dịch, rất giỏi trong việc tấn công các đối tượng ngoại lai khi chúng ở bên ngoài, nhưng một khi đã vào bên trong tế bào, điều tệ hại là chúng được để cho yên ổn.

Tế bào con người lúc này nhận ADN từ virus và bắt đầu làm theo các lệnh hướng dẫn trên đó. Các hướng dẫn này ra lệnh cho tế bào tổng hợp các bản sao của virus và dành tất cả năng lượng chỉ để làm việc này. Chẳng bao lâu, phía bên trong tế bào chứa hàng trăm, nếu không muốn nói đến mức hàng ngàn virus được sao chép. Các virus phá vỡ tế bào và bắt đầu “gõ cửa” các tế bào khác.

Virus giết chết các tế bào như thế nào?
Virus giết chết các tế bào như thế nào?

Tuy nhiên, khi virus được giải phóng, hệ thống miễn dịch bắt đầu nhận diện chúng và hoạt động. Những con virus không sống, vì vậy, chúng thụ động, trơ và không chạy trốn. Chỉ có hệ miễn dịch tấn công virus và kháng sinh đơn giản là đứng nhìn điều đó diễn ra vì chúng không tìm thấy mục tiêu sống.

Nếu việc tấn công của hệ miễn dịch là hiệu quả, virus bị giết chết, bạn sẽ khỏi bệnh. Nếu không, chúng sẽ tiếp tục lây lan và phá hủy các tế bào khác. Ở con người, khi có một số lượng tế bào chết nhất định, cơ thể bắt đầu chịu tác động. Bạn có thể bị bệnh hoặc thậm chí tử vong nếu không được điều trị.

Điều gì sẽ xảy ra nếu dùng kháng sinh diệt virus cảm cúm ?

Điều này gây ra bởi một loại virus có tên rhinovirus. Chúng đã tấn công hàng ngàn tế bào lót trong mũi. Tất cả các tế bào này bây giờ đã được huy động năng lượng chỉ để tổng hợp và sản sinh virus. Khi tế bào chứa đủ các virus, chúng sẽ đâm thủng màng tế bào và ào ạt đổ ra ngoài. Khi bệnh nhân hắt hơi, hàng trăm ngàn con virus sẽ phát tán vào không khí.

Lúc này, có thể chúng ta nghĩ rằng mình cần một liều kháng sinh. Và loại thuốc hay bị lạm dụng trong trường hợp này nhất là azithromycin, bởi chúng không cần kê theo toa của bác sĩ. Azithromycin là một phân tử đặc biệt. Chúng đi vào bên trong cơ thể vi khuẩn và tìm đến nơi protein được tổng hợp.Nó liên kết với các cơ quan làm nhiệm vụ tạo ra protein và ngăn chặn quá trình này. Vi khuẩn sau đó không thể tạo ra thứ gì mới, không thể làm thêm bất cứ điều gì và chết dần nếu không có protein.

Các phân tử thuốc Azithromycin nhắm vào mọi loại vi khuẩn có trong mũi, không phân biệt tốt xấu. Nhưng chúng lại để yên cho virus, bởi virus không có cơ quan để tổng hợp protein cho riêng mình. Điều thực sự xảy ra khi bạn điều trị với kháng sinh là các vi khuẩn bị tiêu diệt gọn, còn virus vẫn tiếp tục tồn tại và lây lan. Virus sẽ “nhăn răng cười khẩy” trước mặt kháng sinh mà kháng sinh không hề “thấy chúng”.

Tuy nhiên, cảm cúm thông thường sẽ khỏi trong vòng 1 tuần. Nhiều người lầm tưởng đó là tác dụng của kháng sinh. Nhưng không, công lao thuộc về hệ miễn dịch của cơ thể. Ngay khi hệ miễn dịch nhận ra rằng virus là các kẻ xâm lược ngoại lai, các đại thực bào sẽ nuốt và tiêu diệt chúng.

Tóm lại chúng ta có thể thấy chúng ta hết bệnh cúm – một bệnh do virus gây ra là nhờ hoàn toàn vào hệ miễn dịch của cơ thể. Và để tăng cường khả năng đối phó của hệ miễn dịch, chúng ta dùng vắc-xin. Vắc-xin có thể ngăn chặn cơ thể bị bệnh bởi nhiễm virus. Một mũi tiêm chứa hàng triệu hạt virus được giảm độc tính, hoặc chỉ gồm bộ phận của nó được đưa vào cơ thể. Hệ miễn dịch sau đó có thể nhận diện, tấn công và tiêu diệt chúng một cách dễ dàng.

Quá trình này giống như một lần tập trận, để khi những con virus thực sự đến, hệ miễn dịch chỉ cần lặp lại đúng những kinh nghiệm mà chúng đã học được để bảo vệ sự khỏe mạnh cho cơ thể.

Một phương pháp khác để chiến đấu với virus là các loại thuốc chống virus. Tất nhiên, chúng không được gọi là kháng sinh. Hãy lấy một ví dụ về virus cúm, chúng rất giỏi trong việc thâm nhập vào bên trong tế bào và ra lệnh sản xuất ra các bản sao.

Tuy nhiên, virus cúm phá vỡ tế bào theo một cơ chế rất riêng. Thay vì sản xuất một số lượng bản sao khổng lồ để làm nổ tế bào, virus cúm đục một lỗ trên màng tế bào để thoát ra ngoài. Chúng mang một enzyme đặc biệt được gọi là neuraminidase, làm công việc khoan thủng màng tế bào.

Hiểu được cơ chế này, con người điều chế ra thuốc Tamiflu. Các phân tử nhỏ hơn của Tamiflu bám vào các khối neuraminidase và làm bất hoạt chúng trong việc xuyên thủng màng tế bào. Từ đó, các virus mới bị giam giữ trong tế bào và không thể lây lan ra khỏi các tế bào khác.

 Tamiflu khiến virus cúm không thể thoát ra ngoài tế bào để lây lan

Tamiflu khiến virus cúm không thể thoát ra ngoài tế bào để lây lan

Dựa trên cơ chế này, bạn có thể thấy rõ ràng một loại thuốc chống virus như Tamiflu chỉ hoạt động trên những virus có hành vi sinh học nhất định. Nó vô dụng đối với chống lại các loại virus khác không phải cúm. Đây là điều khác biệt lớn giữa kháng sinh và thuốc chống virus. Thông thường, một loại kháng sinh hiệu quả trên rất nhiều chủng vi khuẩn khác nhau.

Qua bài viết trên, chúng ta có thể thấy việc làm dụng kháng sinh, điển hình là việc dùng kháng sinh để điều trị cảm cúm chẳng những không có tác dụng gì, mà còn làm cho cơ thể mất di nhiều loại vi khuẩn có lợi, vốn là đối trọng cân bằng chống lại những vi khuẩn có hại gây bệnh. Hơn nữa qua việc lạm dụng kháng sinh, chúng ta đang tạo cơ hội cho vi khuẩn tiếp xúc để “tập trận” biết cách né tránh và dần dẫn miễn nhiễm với kháng sinh. Hành động này chẳng khác gì chúng ta đang “tiêm vắc-xin phòng chống kháng sinh” cho vi khuẩn cả. Nếu mọi người trên thế giới này bị cúm chỉ cần lạm dụng kháng sinh một lần trong tháng thì một tháng, một loại vi khuẩn đã có kinh nghiệm hơn bảy tỉ lần đối phó với loại kháng sinh đó. Đó chỉ là ví dụ, con số thực tế thì có thể hơn nhiều. Trong khi tốc độ tìm ra kháng sinh mới trên thế giới không kịp so với mức độ gia tăng của các vi khuẩn kháng kháng sinh. Trong hơn 5 năm (từ 1983 – 1987), cơ quan Quản lý Dược và thực phẩm Mỹ (FDA) mới chỉ cấp giấy chứng nhận sử dụng cho 18 loại kháng sinh. Còn từ năm 2008 đến nay không có thêm kháng sinh mới nào được tìm ra. Với tình hình này, WHO dự tính đến năm 2050, cứ 3 giây sẽ có 1 người tử vong do các siêu vi khuẩn kháng thuốc, tương đương với khoảng 10 triệu người mỗi năm. Khi đó, các bệnh thông thường như ho hay chỉ một vết cắt cũng có thể gây tử vong.

Vi khuẩn cũng nằm trong quy luật chọn lọc tự nhiên. Chúng luôn tiến hóa và thích nghi với những điều kiện mới để tồn tại và sinh tồn. Vấn đề vi khuẩn kháng kháng sinh là tất yếu, không thể tránh khỏi. Nhưng nếu như con người sử dụng kháng sinh đúng cách, không lạm dụng thì tốc độ thích nghi của vi khuẩn sẽ chậm lại rất nhiều. Thời gian càng dài ra, khoa học càng có nhiều tiến bộ và có đủ thời gian để tìm ra loại kháng sinh mới để đối phó với việc kháng kháng sinh. Sinh viên NTTU, rất nhiều bạn học dược, sau này sẽ là những dược sĩ, mong rằng sau khi các bạn đọc được bài viết này sẽ có trách nhiệm hơn với từng viên thuốc kháng sinh các bạn kê cho người dân. Còn các bạn khác, nếu đọc được bài viết này thì hãy giải thích cho người thân, cho bạn bè, cho bố mẹ, ông bà các bạn hiểu để đừng lạm dụng kháng sinh. Vì cứ mỗi viên kháng sinh bị lạm dụng, chúng ta đã đập bỏ một viên gạch của bức tường kháng sinh bảo vệ chúng ta khỏi vi khuẩn có hại. Và ở hiện tại thì bức tường đó, không còn bao nhiêu viên gạch đâu !