Bài học về nắm bắt cơ hội trong cuộc sống.

Cơ hội để thực hiện ước mơ chính đáng với mục đích tốt đẹp của mọi người đều như nhau. Nhưng tại sao trong cuộc sống hàng ngày, có người chỉ qua một thời gian ngắn đã trở thành tỉ phú. Có người lại có hoàn cảnh và “bệ phóng” rất tốt, nhưng lại khó thành công !? Câu trả lời nằm ở cách họ nhìn nhận và nắm bắt cơ hội. Những câu chuyện sau sẽ minh chứng cho điều đó.

  1. Kodak và máy ảnh kỹ thuật số

5e36c15b05010dc1683236b5584fb355Steven Sasson vào năm 1973, khi anh bắt đầu làm việc tại Kodak

Nhắc đến máy ảnh kỹ thuật số có lẽ ai ai cũng biết và nghe qua những cái tên đã trở nên quá đỗi quen thuộc như Canon, Nikon, Fujifilm, Olympus, Sony,…đến từ Nhật Bản. Và theo lẽ tự nhiên, người ta nghĩ rằng người Nhật đã phát minh ra chiếc máy ảnh số đầu tiên. Nhưng sự thật không phải vậy. “Cha đẻ” của máy ảnh số là người Mỹ và mang tên Kodak. Nhắc đến Kodak ở hiện tại thì có lẽ sẽ ít ai biết, nhưng thế hệ 8x, 9x đời đầu có lẽ đã từng nghe qua cái tên này, thậm chí thấy biển quảng cáo của hãng ở đường phố ở trung tâm như Nguyễn Huệ, Lê Lợi. Kodak ở thời hoàng kim, là ông vua của ngành nhiếp ảnh và kỹ thuật xử lý ảnh. Thời ấy, khi người ta chụp ảnh, người ta nhớ đến máy Kodak, sử dụng phim Kodak, tráng ảnh lên giấy Kodak hay gửi những cuộn phim về phòng tối Kodak để nhận lại những tấm ảnh thành phẩm. Qua đó cũng thấy được sự thành công và vị trí gần như độc tôn của Kodak, như Windows của Microsoft hiện nay. Nhưng sự trớ trêu nhất là chính sự thành công đó đã bóp nghẹt một phát minh làm thay đổi ngành nhiếp ảnh tương lai, do hãng sợ rằng mays ảnh số sẽ làm ảnh hưởng đến doanh số của mảng kinh doanh hiện tại. Phát minh đó là từ Steven Sasson, một kỹ sư trẻ mới nhận việc tại Kodak và được giao cho việc “làm tạm” là nghiên cứu thiết bị cảm biến CCD để xem còn ứng dụng được gì không. Và Sasson đã phát minh ra chiếc máy ảnh số hóa đầu tiên từ cảm biến này và lưu dữ liệu với dạng từ lên băng cassate. Kodak gần như đã nắm giữ chìa khóa của cách mạng nhiếp ảnh. Nhưng thay vì tự dùng chìa khóa đó để mở cánh cửa của máy ảnh số, Kodak lại ung dung “rung đùi” bán chiếc “chìa khóa” đó cho các hãng máy ảnh khác mà rất ít dùng nó cho chính sản phẩm của mình, ngược lại hãng còn quay sang tập trung vào kỹ thuật in ấn và tráng rọi ảnh kiểu cũ. Đến năm 2007, khi bản quyền máy ảnh số hết hiệu lực, Kodak không thu được đồng nào tiền bản quyền nữa trong khi các hãng máy ảnh khác tha hồ sử dụng công nghệ của họ để làm giàu. Kết quả là Kodak đã phải xin bảo hộ phá sản vào năm 2012, sự chủ quan và không biết nắm bắt cơ hội đã kết thúc gần 120 năm hoàng kim của một ông vua nhiếp ảnh.

2. Giao diện đồ họa người dùng và con trỏ chuột của Xerox

Màn hình giao diện máy tính (giao diện đồ họa người dùng) và con trở chuột đã trở nên quá quen thuộc với người dùng hiện nay. Và chắc có lẽ không ít người dùng nghĩ rằng Mircosoft hoặc Apple là người đã phát minh ra nó. Thật ra thì “cha đẻ” của hai chuẩn mực máy tính này là Xerox – một cái tên nghe khá lạ lẫm với mọi người, nhưng vào những năm 1970 lại là một gã khổng lồ trong ngành thiết bị sao chép tài liệu và nghiên cứu phát triển. Phòng nghiên cứu Xerox PARC là nơi xuất hiện đầu tiên của những cửa sổ, những biểu tượng đồ họa (icon), con trỏ chuột,…những thứ đã mang máy tính đến với tất cả mọi người, từ lớn đến bé thay vì trước đó, chỉ những chuyên gia mới có thể sử dụng chúng với những dòng lệnh trắng chạy trên nền đen một cách nhàm chán. Nếu như Xerox thực sự nhìn thấy tiềm năng này thì có lẽ giờ này, cái tên được người ta biết nhiều nhất không phải là Apple hay Microsoft. Đáng buồn thay, những nhà lãnh đạo của Xerox lại không nhìn thấy tiềm năng phát triển của chúng và chúng đã bị bỏ xó…đúng theo nghĩa đen. Mọi chuyện chỉ thay đổi khi có một chuyến thăm làm nên lịch sử của đoàn Apple, trong đó có Steve Jobs vào năm 1979 đến Xerox PARC. Ngay khi nhìn thấy những phát minh này, Jobs đã nhìn thấy tiềm năng của giao diện đồ họa người dùng (GUI – Graphic User Interface) và đã phấn khích thốt lên “Các anh đang ngồi trên một mỏ vàng đấy”. Và cũng chính sau chuyến thăm lịch sử ấy, Apple đã trở thành công ty đầu tiên đưa GUI lên máy tính người dùng phổ thông với chiếc máy tính Lisa. Dù Apple là kẻ đầu tiên đưa GUI đến người dùng phổ thông, nhưng chính Xerox lại là kẻ đầu tiên áp dụng nó cho một sản phẩm hoàn thiện với chiếc máy Alto vào năm 1971. Đáng tiếc là những chiếc Alto này phần lớn chỉ sử dụng nội bộ, phần còn lại tặng cho một số Đại học mà không hề được phổ thông hóa để kinh doanh. Xerox do đã quá “mê mẩn” vào máy photocopy và in ấn mà đã bỏ qua một “mỏ vàng”, một cơ hội thống trị cuộc cách mạng máy tính. Apple chỉ đơn giản, là kẻ đã nhanh tay giật lấy ngọn lửa trên tay vị thần Xerox mà thôi.

mac-web-100-1478841017480

Giao diện GUI trên máy tính Lisa của Apple

           3. Cuộc chiến hệ điều hành giữa Apple và Microsoft.

Microsoft, thuở mới “lọt lòng” chỉ là một “kẻ bám nhờ” vào hệ điều hành chạy trên Macintosh của Apple. Lúc này Windows vẫn còn “trên trời” và Microsoft chỉ có phần mềm Word và Multiplan (tiền thân của Excel) chạy trên Macintosh được nhiều dùng đón nhận. Doanh số bán Word và Multiplan còn nhiều hơn cả doanh số của MS-DOS, hệ điều hành tiền thân Windows của Microsoft. Mối quan hệ của Apple và Microsoft lúc bấy giờ có thể ví như Samsung và kho dứng dụng Play Store của Android thời nay. Apple cần bán máy Macintosh, và người dùng muốn sử dụng Word, Multiplan trên máy tính => muốn bán được máy tính thì phải có hoặc chạy được những phần mềm này. Microsoft vì thế được quyền tiếp cận các thành phần của GUI trên máy Macintosh để viết phần mềm. Một sự lo ngại về việc Microsoft có thể mang những ý tưởng GUI lên hệ điều hành của họ, Jobs đã bắt Bill Gates ký cam kết không được ra mắt bất kì một phần mềm nào sử dụng chuột để thao tác, ít nhất là cho đến 1 năm sau khi đợt hàng đầu tiên của Macintosh hoàn thiện. Nhưng đến năm 1983, Microsoft bất ngờ vén màn một hệ điều hành sử dụng giao diện giống như của Mac có tên gọi tạm thời Interface Manager. Steve Jobs nổi điên và gửi tối hậu thư tới Microsoft: “Tôi muốn anh ta (Bill Gates) có mặt trong phòng này vào chiều mai, hoặc đừng bao giờ bén mảng đến đây nữa”. Vị giám đốc Microsoft một mình xuất hiện và bị bao vây bởi 10 nhân viên của Apple. Steve Jobs hét vào mặt Gates: “Anh vừa copy chúng tôi một cách trắng trợn”. Tuy nhiên Bill Gates lại hết sức bình tĩnh, nhìn thẳng vào đối thủ lớn nhất cuộc đời mình và trả lời một cách điểm tĩnh: “Steve, sao anh không nhìn sự việc theo một cách khác. Tôi nghĩ cả hai chúng ta đều có chung một người hàng xóm giàu có tên là Xerox. Tôi đã đột nhập vào nhà anh ta để trộm cái TV nhưng không ngờ anh đã đến đấy lấy trộm nó trước”. Năm 1985, Apple xảy ra “nội chiến” khiến Steve Jobs phải rời bỏ công ty. Thiếu Steve Jobs, Sculley – CEO của Apple dễ dàng bị Microsoft biến thành nạn nhân. Cuối năm 1985, doanh số Macintosh lao dốc. Cùng lúc đó, Microsoft cho ra đời Windows 1.0 với đặc điểm mà ai cũng có thể thấy: rất nhiều thứ góp nhặt từ Macintosh. Sculley nổi điên với Bill Gates nhưng chẳng thể lằm căng, vì lúc này doanh số Macintosh lại là nạn nhân “ăn bám” vào phần mềm Word và Multiplan của Microsoft. Thêm nữa, Microsoft cũng đã đến thăm Xerox, đã mua bản quyền GUI mà chẳng cần phải đả động đến vấn đề cổ phần như Apple. Cuối cùng, sau một bức tâm thư từ Gates và sau một cuộc gặp căng thẳng giữa hai bên, Sculley đã chấp nhận nhượng quyền một số yếu tố đồ họa Mac cho Microsoft. Về phần mình, Gill Gates đồng ý sẽ tiếp tục phát triển ứng dụng cho Mac và cũng hứa sẽ không phát hành Excel, phiên bản cải tiến vượt trội của Multiplan, lên bất cứ hệ điều hành nào ngoài Macintosh trong vòng 2 năm. Đó là sự đánh đổi mà Sculley có thể chấp nhận được. Đúng 2 năm sau đó, Sculley sốc nặng khi Microsoft ra mắt phiên bản Windows 2.0 được cải tiến vượt bậc so với Windows 1.0 (nhưng vẫn rất giống Mac OS). Thời hạn hợp đồng dành cho Word và Excel lúc này đã hết, chưa kể Microsoft còn thu hút được nhiều hãng phần mềm đình đám như Aldus, Corel và Microtek tham gia phát triển ứng dụng cho Windows 2.0. Apple quyết định khởi kiện Microsoft. Đầu năm 1988, tòa án Mỹ đưa ra kết luận rằng thỏa thuận giữa hai bên đã bao gồm 179/189 yếu tố đồ họa được đề cập trong đơn kiện của Táo. Sculley ngã ngửa vì nhận ra rằng điều khoản nhượng quyền GUI cho các phiên bản Windows “phát triển từ Windows 1.0” không chỉ bao gồm Windows 1.x mà còn bao gồm tất cả các bản Windows về sau. Microsoft, như Bill Gate thừa nhận với Steve Jobs vài năm trước đó…là kẻ đã đến sau Apple khi “đột nhập vào Xerox trộm TV” nhưng lại là kẻ rất giỏi nắm bắt thời cơ và cơ hội. Và chính vì lẽ đó, Windows của Microsoft đã thống trị thị phần hệ điều hành máy tính chứ không phải Mac OS như chúng ta thấy hiện nay.

mac-web-157-1478841017487

GUI trên Windows 2.0